Triển vọng của cổ phiếu Masan Group trong dài hạn
01/08/2024
Kể từ khi thực hiện công cuộc Đổi Mới từ 1986 đến nay, Việt Nam được xem là hình mẫu thành công trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhờ môi trường đầu tư hấp dẫn, nền tảng chính trị ổn định và tiềm năng tăng trưởng kinh tế khá cao. Thời điểm sau COVID-19 đến nay, tuy tình hình kinh tế thế giới có nhiều thách thức, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục rót vốn mạnh vào Việt Nam, xem nơi đây là điểm đến hấp dẫn với những lợi thế về địa lý, thể chế và môi trường đầu tư ngày càng được hoàn thiện.
Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV), Chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách và biện pháp hỗ trợ đầu tư nước ngoài. Điều này bao gồm việc giảm thuế và các lợi ích thuế khác nhau cho các dự án đầu tư trong các ngành công nghiệp quan trọng như công nghệ thông tin, sản xuất và năng lượng tái tạo. Các biện pháp này đã giúp thu hút nhiều dự án đầu tư lớn từ các tập đoàn quốc tế. Cụ thể, theo Bộ Tài chính, chính sách đầu tư nước ngoài có thể chia làm ba loại: Chính sách thu hút FDI, chính sách nâng cấp FDI và chính sách khuyến khích các mối liên kết giữa các tập đoàn xuyên quốc gia với doanh nghiệp trong nước.
Chính sách thu hút FDI được hình thành bằng các ưu đãi về thuế, đất đai, cơ chế thuận lợi trong việc chu chuyển vốn, xuất nhập khẩu, kinh doanh trên thị trường trong nước và các bảo đảm bằng luật pháp quyền sở hữu vốn và tài sản, sở hữu trí tuệ của nhà đầu tư. Chiến lược này bao gồm việc giảm tiền thuê đất, miễn giảm một số loại thuế… trong thời gian nhất định.
Chính sách nâng cấp FDI được hình thành theo các định hướng ưu tiên thu hút FDI như dự án công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, xây dựng khu kinh tế đặc biệt với những ưu đãi cao hơn so với các dự án FDI thông thường. Trong một số trường hợp, có nước còn áp dụng hình thức trợ cấp của Chính phủ cho nhà đầu tư để họ thực hiện dự án có quy mô lớn, tác động lan tỏa rộng, thuộc danh mục ưu tiên cao nhất.
Chính sách khuyến khích các mối liên kết giữa tập đoàn xuyên quốc gia với doanh nghiệp trong nước được hình thành như là một phần trong chính sách công nghiệp, dịch vụ của từng quốc gia, nhằm làm cho các doanh nghiệp trong nước được hưởng lợi từ FDI nhờ vào mối quan hệ hợp tác và phân công về công nghệ và thị trường tiêu thụ với các tập đoàn xuyên quốc gia. Chính sách này cũng khuyến khích các tập đoàn xuyên quốc gia hợp tác với các cơ sở đào tạo (nhất là bậc đại học và dạy nghề trình độ cao), tổ chức nghiên cứu khoa học trong nước để nâng cao hơn nữa trình độ và năng lực của các cơ sở, tổ chức đó.
Việt Nam là một trong những điểm đến hấp dẫn cho đầu tư nước ngoài (FDI), và năm 2023, thị trường này tiếp tục thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư trên toàn cầu. Điều này phần lớn là nhờ vào chính sách mở cửa và nỗ lực liên tục của Chính phủ Việt Nam để tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án FDI. Theo số liệu mới nhất từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến ngày 20/8/2023, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 18,15 tỷ USD tăng 8,2% so với cùng kỳ, tăng 3,7 điểm phần trăm so với 7 tháng đầu năm. Ngoài vốn đầu tư điều chỉnh giảm thì vốn đầu tư mới và mua phần vốn góp tiếp tục tăng hơn so với cùng kỳ.

Cơ cấu vốn ĐTNN 8 tháng năm 2023 theo tháng và theo cách thức đầu tư vốn
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Về cơ cấu, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân, với thị phần cao nhất là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt gần 13 tỷ USD, chiếm gần 67,8% tổng vốn đầu tư đăng ký và tăng 14,7% so với cùng kỳ. Ngành kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với tổng vốn đầu tư hơn 1,76 tỷ USD, chiếm hơn 9,7% tổng vốn đầu tư đăng ký, giảm 47,2% so với cùng kỳ. Các ngành tài chính ngân hàng, hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ xếp thứ 3 và 4 với tổng vốn đăng ký đạt lần lượt gần 1,54 tỷ USD (gấp gần 63,7 lần) và gần 800 triệu USD (tăng 28,9%).
Điều này đã thể hiện xu hướng của dòng tiền đầu tư thông minh từ khắp nơi trên thế giới. Trong 8 tháng năm 2023, đã có 100 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Trong đó, nổi bật là Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư hơn 3,83 tỷ USD, tuy có giảm 15,4% so với cùng kỳ 2022, nhưng vẫn chiếm hơn 21,2% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Trung Quốc đứng thứ 2 với gần 2,69 tỷ USD, chiếm 14,8% tổng vốn đầu tư, tăng 90,8% so với cùng kỳ; đồng thời cũng dẫn đầu về số dự án mới. Nhật Bản đứng thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 2,58 tỷ USD, chiếm hơn 14,2% tổng vốn đầu tư, tăng 73,1% so với cùng kỳ. Tiếp theo là Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan…
Trong tổng số 54 tỉnh, thành phố nhận được đầu tư nước ngoài trong 8 tháng đầu năm 2023, Hà Nội dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 2,34 tỷ USD, chiếm gần 12,9% tổng vốn đầu tư đăng ký và tăng gấp 2,89 lần so với cùng kỳ năm 2022. Hải Phòng xếp thứ 2 với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 2,08 tỷ USD, chiếm gần 11,5% tổng vốn đầu tư cả nước, tăng 72,2% so với cùng kỳ. Tiếp theo lần lượt là TP. Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Bình Dương… Nếu xét về số dự án, TP Hồ Chí Minh là địa bàn dẫn đầu cả nước cả về số dự án mới (39,6%), số lượt dự án điều chỉnh (23,4%) và mua phần vốn góp (67%). Như vậy, Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh vẫn thể hiện vị thế đầu tàu của cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài.
Tính tới ngày 20/8/2023, ước tính các dự án FDI đã giải ngân được khoảng 13,1 tỷ USD, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2022, tăng 0,5 điểm phần trăm so với 7 tháng năm 2023. Xuất khẩu (kể cả dầu thô) của khu vực ĐTNN ước đạt gần 165,69 tỷ USD, giảm 11,4% so với cùng kỳ, chiếm 73,7% kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt gần 164,38 tỷ USD, giảm 11,4%, chiếm 73,1% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, khu vực FDI vẫn xuất siêu hơn 32 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu hơn 30,7 tỷ USD không kể dầu thô; trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu hơn 14,7 tỷ USD. Những số liệu cập nhật đầy khả quan này cho thấy khu vực FDI này tiếp tục chiếm một phần quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế Việt Nam.
Tháng 6 năm 2022 vừa qua, Chính phủ đã công bố chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030, nhằm tạo ra môi trường kinh doanh ổn định và dự báo cho các nhà đầu tư. Mục tiêu của Chiến lược này là thu hút các dự án đầu tư nước ngoài sử dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa tích cực, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu.
Chiến lược vạch rõ, là phải đạt được các mục tiêu được đặt ra tại Nghị quyết 50/NQ-TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 20-8-2019 “Về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030”. Theo đó, nâng cao tỷ lệ vốn đầu tư đăng ký của các quốc gia và vùng lãnh thổ trong một số khu vực trong tổng số vốn đầu tư nước ngoài cả nước lên hơn 70% trong giai đoạn 2021 - 2025 và 75% trong giai đoạn 2026 - 2030. Các quốc gia và vùng lãnh thổ được tập trung đẩy mạnh thu hút vốn FDI ở châu Á sẽ bao gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia, Phillipines; ở châu Âu sẽ là Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Liên bang Nga, Anh; và ở châu Mỹ là Hoa Kỳ.
Bên cạnh đó, tăng 50% số lượng tập đoàn đa quốc gia thuộc nhóm 500 tập đoàn lớn nhất thế giới do Tạp chí Fortune (Hoa Kỳ) xếp hạng có hiện diện và hoạt động tại Việt Nam. Mục tiêu tiếp theo của chiến lược là đến năm 2030, Việt Nam sẽ nằm trong nhóm 3 quốc gia dẫn đầu ASEAN và nhóm 60 quốc gia đứng đầu thế giới theo xếp hạng môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới. Song song đó, là xây dựng và phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm tài chính đạt tầm cỡ khu vực và quốc tế, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn tới.
Một mục tiêu quan trọng khác của Chiến lược, đó là nâng cao hiệu quả, chất lượng toàn diện trong công tác thu hút, sử dụng vốn đầu tư nước ngoài, tăng tỷ lệ đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế - xã hội, tương xứng với những hỗ trợ, ưu đãi được hưởng. Nhà nước tạo điều kiện để mở rộng thị trường, tranh thủ vốn, công nghệ, kiến thức quản lý, văn hóa doanh nghiệp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và sản phẩm nội địa; thúc đẩy các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong nước; xác lập và tăng cường vai trò của doanh nghiệp Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Minh Cường, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) từng nhận định: "Chúng ta không cần giật mình khi FDI giảm bởi đây là xu hướng tất yếu, không tránh khỏi khi quá trình tái cấu trúc thương mại toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ. Đã đến lúc Việt Nam nhìn nhận lại chiến lược thu hút FDI để chuyển mình thích nghi với bối cảnh mới". Theo ông Cường, cần tập trung vào việc cải thiện chất lượng dự án thay vì chỉ tập trung vào số lượng. Điều này đồng nghĩa với việc cần đầu tư vào nguồn nhân lực chất lượng cao, hạ tầng và công nghệ để thu hút các nhà đầu tư có giá trị gia tăng cao hơn.
Chính phủ Việt Nam trong thời gian gần đây cũng đã đưa ra kế hoạch sửa đổi chiến lược để thu hút thêm vốn FDI. Dự kiến, các biện pháp sửa đổi sẽ tập trung vào việc tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi hơn, tăng tính minh bạch trong quản lý đầu tư, và thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh. Năm 2023 này, Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn cho đầu tư nước ngoài, nhờ vào các chính sách hỗ trợ đầu tư, chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài, và nỗ lực của chính phủ trong việc điều chỉnh chiến lược để thu hút vốn FDI.